Tổng Quan Về Ván Bóc, Ván Lạng. Phân Loại Ván Bóc, Ván Lạng

Tổng Quan Về Ván Bóc, Ván Lạng. Phân Loại Ván Bóc, Ván Lạng

Có thể nói ngành ván bóc, ván lạng được sinh ra là cả một kỳ tích của nhân loại vì nó góp phần quan trọng để bảo vệ môi trường tự nhiên bằng cách tận dụng tối đa một cây gỗ. Hơn nữa có thể sử dụng được gỗ rừng trồng, thời gian khai thác nhanh. Ván plywood bên cạnh các loại ván gỗ công nghiệp khác được tạo ra đã đáp ứng được nhu cầu khổng lồ trong xu thế nhu cầu sử dụng gỗ của con người tăng nhanh chóng với hơn 7 tỉ dân trên toàn thế giới. Góp phần đảm bảo ổn định được diện tích rừng tự nhiên mà nếu chặt phá phải mất hàng trăm năm mới có thể phục hồi trở lại.

1. Ngành ván bóc, ván lạng tại Việt Nam có từ bao giờ và phát triển như thế nào?

Hình 1: Máy bóc gỗ thế kỷ 18

Việc sử dụng veneer đã có từ gần 4.000 năm trước khi các hình thức ban đầu sơ khởi của nó được tìm thấy trong lăng mộ của các pharaoh Ai Cập. Trong thế kỷ 17, việc làm ra các tấm veneer đã được chỉnh chu hơn khi các công cụ tốt hơn được phát triển. Nhà thiết kế người Anh nổi tiếng Thomas Chippendale, vào thế kỷ 18, đã sử dụng veneer để sản xuất đồ nội thất tinh xảo của mình. Sau đó, ngành công nghiệp piano trở thành ngành công nghiệp đầu tiên ở Bắc Mỹ sử dụng gỗ dán. Vào giữa năm 1800, một máy tiện cắt veneer đã được cấp bằng sáng chế, mở đường cho sự phát triển của máy bóc tốc độ cao ngày nay. Kết quả của việc cơ giới hóa, đến cuối năm 1890, giá ván ép gỗ đã trở nên ngày càng phải chăng. Ngày nay, gỗ dán được sử dụng rộng rãi trong đời sống cũng như trong công nghiệp và xây dựng. Trên thế giới hiện nay Trung Quốc đang là quốc gia phát triển mạnh nhất ngành này và cung cấp tới 50% sản phẩm ván plywood của thế giới. Hãy cùng tìm hiểu lịch sử phát triển ngành ván bóc, ván lạng tại Việt Nam.

  • Giai đoạn hình thành

Hình 2: Máy bóc cơ đang hoạt động

Ngành bóc tại Việt Nam xuất hiện khá sớm từ những năm giữa thập niên 90 của thế kỷ trước. Máy móc được sử dụng là máy cơ, bánh đà to và chặt rời. Các xưởng bóc có rải rác ở cả miền Nam và miền Bắc và công nghệ, máy móc đều do người Trung Quốc đưa sang, sau này người Việt Nam mới tiếp cận và làm chủ nó. Các tỉnh mà có các xưởng bóc sớm nhất có thể kể đến như Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang. Vào những năm 2005,2006 thì các xưởng bóc bắt đầu có dấu hiệu tăng nhanh hơn và thực sự bùng nổ vào những năm 2010,2012 với hàng nghìn xưởng bóc mọc thêm trên cả nước và miền bắc có thể nói là tăng với con số chóng mặt. Ước tính thời gian này tại Yên Bái đã có trên 400 xưởng bóc và tại Phú Thọ cũng tương đương con số ấy. Các tỉnh phát triển nhất ngành này có Yên Bái, Phú Thọ, sau đó là Bắc Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn… Trong nam các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương cũng phân bố khá nhiều xưởng bóc. Các tỉnh khu vực miền trung và Tây Nguyên giai đoạn này vẫn chưa có nhiều xưởng và ngành nghề này vẫn còn khá mới mẻ.

  • Nâng cấp công nghệ từ máy cơ sang máy điện tử

Hình 3: Máy bóc gỗ điện tử Machi cung cấp

Có thể nói ngành bóc gỗ Việt Nam có bước tiến quan trọng khi máy điện tử bắt đầu xuất hiện và dần được du nhập vào Việt Nam vào những năm 2012, 2013. Lúc này máy bóc vẫn còn là máy bóc bán điện tử, đời đầu tiên còn chặt rời. Tuy nhiên năng suất đem lại vượt xa các máy bóc cơ. Về sau máy điện tử càng được cải tiến hơn và xuất hiện máy chặt tại họng, chọc lõi tự động rồi sau này là chặt tấm cuối. Các ưu điểm vượt trội của máy điện tử giúp nó dần có chỗ đứng và tới đầu năm 2017 thì thị trường Việt Nam có tới gần 30% máy bóc là máy điện tử mặc dù rào cản giá thành cao. Tuy nhiên đây vẫn chưa thực sự là giai đoạn bùng nổ đầu tư cho ngành bóc vì vẫn còn tới 70% sử dụng máy bóc cơ với công nghệ cũ.

  • Giai đoạn bùng nổ

Bắt đầu từ năm 2018, ngay khi chiến tranh thương mại Mỹ – Trung nổ ra đã tạo ra một loạt lợi thế cho thị trường ván bóc Việt Nam. Các doanh nghiệp Trung Quốc sang mua lại các xưởng ép Việt Nam và cả đầu tư mới rồi mua ván bóc với giá cao đã kích thích sự đầu tư ồ ạt các xưởng bóc mới, nhất là thị trường miền bắc. Cũng rất nhiều các chủ xưởng bóc ngoài bắc vào miền trung mở xưởng mới để tạo lợi thế về nguồn gỗ và tạo ra làn sóng đầu tư xưởng bóc gỗ cho các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng trị, Quảng Ngãi…trong năm 2018. Theo số liệu ước tính trong năm 2018 có khoảng 1000 máy bóc mới đi vào hoạt động và con số này gấp hai lần năm 2017. Trong đó trên 90% là máy bóc gỗ điện tử. Cũng trong năm này các dàn máy bóc gỗ điện tử tự động đầu tiên đã có mặt tại Việt Nam và tạo ra một bước tiến mới cho ngành bóc. Việc đầu tư máy bóc gỗ điện tử thay thế máy bóc cơ cũng được các chủ xưởng bóc xác định là việc bắt buộc phải làm nếu không muốn bị đào thải vì sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Tới năm 2019 tuy việc các xưởng bóc mới được mở ra đã chững lại hơn nhưng việc thay thế công nghệ cũ vấn tiếp tục diễn ra. Và nếu không nằm ngoài dự đoán thì tới năm 2021, 2022 ngành bóc Việt Nam sẽ khó có thể còn máy cơ hoạt động.

2. Các loại gỗ dùng để bóc ván độn chủ yếu ở Việt Nam

Hình 3: Gỗ keo cắt đúng quy chuẩn 1,3m

Có thể nói thị trường bóc Việt Nam rất đa dạng về nguồn gỗ bóc. Trước đây thì việc bóc gỗ tạp rừng tự nhiên diễn ra nhiều hơn. Tuy nhiên sau khi chính phủ cấm khai thác gỗ rừng thì gần như 100% các xưởng bóc gỗ rừng trồng. Các loại gỗ rừng trồng cũng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng từng vùng vì thế có khá nhiều loại gỗ khác nhau được bóc tại Việt Nam như gỗ bạch đàn, keo, cao su, thông, mỡ, bồ đề, điều, quế…

  • Gỗ keo

Keo là cây gỗ thẳng, thuộc nhóm III, màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt. Cho nên gỗ keo lai rất phù hợp với các dự án lâm nghiệp thương mại. Cây keo là một chi của một số loài cây thân bụi và thân gỗ có nguồn gốc tại đại lục cổ Gondwana, thuộc về phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) thuộc họ Đậu (Fabaceae). Trong tiếng Anh, các loài ở Australia gọi chung là wattle (cây keo Úc), còn các loài châu Phi và châu Mỹ gọi chung là acacia (cây keo). Tại Việt Nam keo được trồng ở hầu hết các tỉnh có lâm nghiệp phát triển. Tuy nhiên tập trung nhiều ở các tỉnh phía bắc và miền trung, và một số vùng Tây Nguyên. Các tỉnh Nam Bộ ít trồng keo hơn. Cây keo có tốc độ sinh trưởng tốt và thời gian khai thác nhanh.

Ván keo hiện tại là sản phẩm chủ lực của ngành ván bó nước ta. Ván keo dễ sử dụng, chống mối mọt tốt và sẵn nguồn nguyên liệu để sản xuất.

Hình 4: Gỗ bạch đàn tại một xưởng bóc

  • Gỗ bạch đàn

Cây bạch đàn có tên khoa học là: Aromadendron Andrews ex Steud. Thuộc họ đào kim nương. Tên gọi khác là khuynh diệp. Theo thống kê của Wikipedia hiện nay có tới hơn 700 loài bạch đàn trên thế giới. Tuy nhiên tại Việt Nam hiện nay có 3 loài chính bạch đàn liễu, bạch đàn trắng và bạch đàn chanh. Bạch đàn là cây gỗ to, vỏ mềm, bần bong thành mảng để lộ vỏ thân màu sáng. Bạch đàn là cây dễ sinh trưởng nên được trồng rải rác trên khắp cả nước. Các tỉnh trồng nhiều bạch đàn có thể kể đến như Quảng Bình, Quảng Trị, Bắc Giang, Quảng Ninh… Ván bạch đàn là loại ván được ưa chuộng và có giá trị kinh tế cao. Ván Bạch Đàn có tác dụng chống mối mọt, được ưa chuộng sử dụng để làm các loại ván cao cấp như ván sàn ván nội thất.

  • Gỗ cao su

Ngoài chức năng chính là người trồng cao su để lấy mủ (nhựa) để sản xuất trong ngành công nghiệp cao su như sản xuất nệm, lốp xe, thì cây cao su có tác dụng cung cấp cho các ngành công nghiệp chế biến gỗ. Trong những năm gần đây do giá mủ cao su rớt giá nên bà con nông dân đốn hạ rất nhiều cây cao su làm gia tăng nguyên liệu và giảm giá gỗ thu mua. Có thể nói hiện nay cao su là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho các xưởng bóc khu vực phía Nam. Cây cao su được trồng nhiều ở các tỉnh phía nam và rải rác ở một số khu vực miền trung, Tây Nguyên. Ván cao su khi bóc ra trắng và do là gỗ khá mềm nên bề mặt thường đẹp do vậy hàng ván ép sản xuất ra có màu sắc được các đơn vị thương mại ván khá ưa chuộng. Tuy nhiên ván cao su không phải là loại chống mối mọt tốt nên ít được sử dụng cho ván sàn và ván nội thất.

Hình 5: Rừng cao su tại Bình Phước

  • Gỗ thông

Thông là một loại cây thân gỗ lớn, mọc thẳng đứng cây trưởng thành cao từ 30 – 35m, tròn, có nhiều nhựa. Là đại diện cho một loài cây thân gỗ mọc được ở vùng có khí hậu ôn đới. Nhựa Thông là loại nhựa này ngăn cảng sự phá hoại của các loại mối mọt bên ngoài lên gỗ, làm cho đồ gỗ được làm từ gỗ thông như có một bức tường kiên cố bất xâm nhập đối với mối mọt. Cây Thông có tốc độ tăng trưởng tốt tuy nhiên cây không được thẳng như bạch đàn hay keo. Cây thông tại Việt Nam được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía bắc và tại Đà Lạt. Ván bóc thông thường là ván loại 97x47cm, trước đây gần như 100% ván thông được xuất sang Trung Quốc nhưng hiện nay cũng có khá nhiều xưởng ép tại Việt Nam thu mua loại này.

  • Gỗ mỡ

Cây Mỡ, có tài liệu còn gọi là Vàng tâm (danh pháp khoa học: Magnolia conifera), là một loài thực vật có hoa trong họ Magnoliaceae. Cây gỗ nhỡ cao tới 20m. Thân đơn trục thẳng, tròn đều, độ thon nhỏ. Tán hình tháp. Vỏ nhẵn màu xám xanh, không nứt, nhiều lỗ bì tròn; lớp vỏ trong màu trắng ngà, thơm nhẹ. Cây mỡ được trồng ở một số ít tỉnh phía bắc. Ván bóc mỡ thường khá đẹp do mỡ là loại cây mềm, thẳng và có màu sáng. Ván bóc mỡ cũng khá dễ bán trên thị trường.

  • Gỗ bồ đề

Cây bồ đề là cây gỗ trung bình, cao 18-20m, có thể trên 20m, đường kính ngang ngực 20-25cm. Thân cây màu trắng, tương đối tròn, vỏ mỏng. Tán cây mỏng và thưa, bồ đề mềm, nhẹ, thuộc nhóm VIII phân bố tương đối rộng ở nhiều vùng thuộc miền núi phía Tây Bắc, Việt Bắc xuống đến miền Tây Thanh Hóa và còn lác đác tới biên giới Nghệ An – Lào. Gỗ bóc bồ đề được một số ít hộ gia đình sản xuất do tận dụng nguồn nguyên liệu địa phương.

  • Gỗ điều

Đặc điểm của gỗ điều trong tự nhiên là gỗ mềm, nhẹ, sáng màu hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của nguyên liệu sản xuất ván nhân tạo. Tuy nhiên nhược điểm của gỗ điều là cây không thẳng nên ván bóc gỗ điều thường là các loại ván vuông, ngắn. Điều được trồng chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ và Tây Nguyên do đó các xưởng bóc ở miền Nam sản xuất ván bóc Điều là chủ yếu. Khổ ván bóc thường bóc cho gỗ điều là 50x50cm hoặc 65x65cm

  • Gỗ tạp

Mặc dù hiện nay nhà nước đã cấp sử dụng gỗ tạp hay còn gọi là gỗ rừng tự nhiên để khai thác và sản xuất. Nhưng bằng cách này hay cách khác vẫn có một số lượng khỏ gỗ tạp được bóc trên thị trường. Có tên gọi là gỗ tạp do bao gồm nhiều loại cây và đặc tính khác nhau.

3. Các kích thước ván bóc, ván lạng phổ biến

Hình 5: Ván bóc khổ 127×64

Trên thị trường nếu xét đến ván độn thì hiện đang bóc với khá nhiều kích thước khác nhau nhưng với chiều dày chủ yếu ở 3 mốc 1,5mm; 1,7mm và 2,0mm. Hai khổ ván tiêu chuẩn và thông dụng nhất là 127x64cm. Đây là tiêu chuẩn khổ ván phổ biến nhất theo tiêu chuẩn khổ ván ép của thị trường Mỹ và Châu Âu. Khổ ván thông dụng tiếp theo là 97x47cm. Đây là khổ ván làm theo tiêu chuẩn ván ép của thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc. Ngoài ra ở phía Nam các xưởng bóc còn làm các khổ ván vuông như 50x50cm hay 65x65cm hoặc các loại ván khổ vuông 127x127cm.

Về ván mặt khổ bóc thường bóc là 254x127cm với chiều dày khác nhau dao động từ 0,2 đến 0,5mm. Tại Việt Nam các loại gỗ thường dùng để bóc ván mặt như mỡ hay bồ đề do gỗ mềm và màu đẹp.

4. Tình hình thị trường ván bóc, ván lạng hiện nay.

Thị trường ván lạng, ván bóc hiện nay đang vào giai đoạn tiệm cận mức bão hòa, mức độ cạnh tranh đang khốc liệt hơn. Chỉ có những xưởng bóc sử dụng máy móc hiện đại hơn, công nghệ tốt hơn, tổ chức được việc quản lý sản xuất tối ưu hơn thì mới có sức cạnh tranh và tiếp tục phát triển. Đây cũng được coi là cơ hội lớn cho ngành bứt phá, phá bung rào cản về các hạn chế mà xưa nay ngành bóc, ép Việt Nam còn gặp phải khi tiếp cận với các thị trường lớn và khó tính toàn cầu.

MACHI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0823456868